Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016

Vì làm sao bệnh trĩ đã điều trị khỏi vẫn tái phát trở lại

Đa số người khi bị bệnh trĩ đều mong muốn mình có thể điều trị dứt điểm. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp bệnh quay trở lại, gây hoang mang cho bệnh nhân.
Bệnh trĩ là bệnh có tỷ lệ mắc rất cao, ảnh hưởng đến mọi mặt của người bệnh. Vì vậy, trĩ luôn là nỗi ám ảnh của nhiều người. Đa số bệnh nhân khi bị bệnh trĩ đều mong muốn mình có thể điều trị dứt điểm, không còn khả năng tái phát trở lại. Nhưng trên thực tại, khi điều trị, bệnh trĩ đã khỏi nhưng một thời gian sau, bệnh vẫn quay trở lại.
Nguyên nhân tái phát bệnh
Do bệnh nhân không tuân thủ các hướng dẫn và cách phòng tránh khiến bệnh sớm tái phát trở lại. Ăn uống, sinh hoạt không khoa học. Đặc biệt, thời gian mùa hè là thời điểm nhạy cảm, khi cơ thể mệt mỏi với sự nóng bức, ăn uống thất thường là nguy cơ đẩy bệnh trĩ quay trở lại.
Trong khi, việc vệ sinh, chăm sóc không hợp lý sau khi điều trị nên bệnh trĩ lại tái phát trở lại.


Ăn uống hợp lý, khoa học, bổ sung nhiều chất xơ.

Cách phòng bệnh trĩ không tái phát trở lại
Để bệnh trĩ không còn năng lực tái phát trở lại, mọi người nên chú ý và tuân thủ chặt chẽ những lời khuyên, ý kiến của các chuyên gia dưới đây.
Bệnh nhân phải chú ý khi đi đại tiện, tập cho mình thói quen đi đại tiện đúng giờ, không nhịn, đi ngay khi có nhu cầu. Sau thời gian điều trị khỏi, mọi người nên dùng một số sản phẩm hỗ trợ tránh tái phát. Các Nguyên nhân dễ gây ra bệnh trĩ thì buộc phải để ý và tránh tiếp xúc.
Người mắc bệnh nên hoạt động, rèn luyện thể dục thể thao, nhưng phải là những môn thể thao nhẹ nhàng. Không được ngồi quá lâu một chỗ, nếu phải ngồi thì thường xuyên phải đứng dậy vận động. Luôn giữ cho tinh thần đầu óc được thư giãn, vô tư, tránh căng thẳng hay tình trạng stress xảy ra. Ăn uống hợp lý, khoa học và uống đủ lượng nước hàng ngày từ 1,5 lít đến 2 lít mỗi ngày.
Bệnh trĩ được coi là khỏi hoàn toàn nếu người bệnh không còn có cách biểu hiện như đau rát, chảy máu, ngứa ngáy, tiêu diệt hoàn toàn được búi trĩ, sức bền của thành tĩnh mạch phải được cải thiện. Nếu phát hiện bệnh trĩ tái phát trở lại, bệnh nhân cần được điều trị ngay để tránh bệnh tiến triển nặng hơn.

Bệnh trĩ: Biến chứng và thuốc chữa trị

Khi các mạch máu tĩnh mạch bị ứ máu thành tĩnh mạch bị giãn ra, sung huyết. Những tĩnh mạch bị giãn như vậy ở trực tràng và hậu môn tạo thành búi trĩ và gây nên bệnh trĩ.
Đừng xem thường biến chứng của bệnh trĩ
Với những triệu chứng như đi ngoài ra máu, đau rát, luôn có cảm giác vướng, giận dữ, sờ thấy búi trĩ ở hậu môn..., bệnh trĩ làm cho người bệnh đau đớn, tức giận, tinh thần không thoả thích. Do là bệnh ở vùng kín nên bệnh nhân thường rất ngại đi khám và điều trị, nhất là đàn bà. Có nhiều người âm thầm chịu đựng “sống chung” với bệnh nhiều năm. Chỉ đến khi bệnh đã nặng, chảy máu nhiều hoặc búi trĩ đã bị sa nằm bên ngoài hậu môn không thể co lên, họ mới bắt nên phải điều trị. Hơn thế, bệnh còn có thể gây những biến chứng nguy hiểm như: tắc mạch, nghẹt, nhiễm khuẩn...

Tắc mạch: trĩ ngoại có thể là do vỡ các tĩnh mạch, tạo nên một bọc máu, hoặc là do hiện tượng đông máu ở trong lòng mạch máu. Việc tăng áp lực khi đi ngoài, khuân vác nặng, hoạt động thể thao, hậu sản... gây sung huyết vùng hậu môn là những yếu tố tiện lợi của tắc mạch trĩ. Khi bị tắc mạch, bệnh nhân rất đau rát, cũng có khi cục máu đông gây hoại tử phía da gây rỉ máu. Tắc mạch trĩ nội ít hơn nhiều so với tắc mạch trĩ ngoại. Bệnh nhân đau ở trong sâu, có cảm giác gợn cộm như có một vật lạ nằm trong lòng ống hậu môn.
Nghẹt: là khi búi trĩ hay vòng trĩ sa ra ngoài, mạch có thể bị tắc gây phù nề và vì vậy không thể tự thụt lại vào trong lòng trực tràng được. Khi nhìn, thấy mặt ngoài của trĩ sa nghẹt là da màu xám, ở mặt trong là niêm mạc màu nâu đỏ, sưng nề, rải rác có những nốt xám đen là do hiện tượng hoại tử bắt đầu.
Nhiễm khuẩn do trĩ: thường là viêm khe, viêm nhú. Biểu hiện của viêm khe, viêm nhú là cảm giác ngứa ngáy hay nóng rát. Soi hậu môn thấy các nhú phù nề sưng to, màu trắng, các khe nằm giữa các búi trĩ bị loét nông, màu đỏ. Cần đề phòng tình trạng bội nhiễm. Nếu trĩ thòi ra ngoài lâu, chảy máu liên tục thì rất dễ bị bội nhiễm vi khuẩn bởi vì hậu môn là đường ra của phân mà trong phân có vô số vi khuẩn gây bệnh.
Để bệnh không diễn tiến đến giai đoạn nặng hay xảy ra biến chứng nguy hiểm, bệnh nhân trĩ nên chữa trị càng sớm càng tốt.
Thuốc điều trị
Thuốc điều trị bệnh trĩ chủ yếu gồm hai loại: Loại để uống (viên nén, viên nang) và loại thuốc dùng để bôi hoặc đặt trong hậu môn như thuốc mỡ, thuốc viên đạn. Dùng thuốc có thể giúp giảm các dấu hiệu của bệnh trĩ.
Thuốc uống (có dạng viên nang hoặc viên nén): thường có công dụng điều hòa tính thẩm thấu và tăng sức bền chắc thành của các tĩnh mạch, do đó làm giảm phù nề, giảm sung huyết các tĩnh mạch ở vùng trĩ, cầm máu đối với trĩ chảy máu, co búi trĩ. Đây là thuốc chứa các hoạt chất rutin (còn gọi là vitamin P). Do tác động đến tĩnh mạch nên thuốc ngoài công dụng chữa trĩ còn dùng để trị chứng suy, giãn tĩnh mạch, đặc biệt bị ở chi dưới như tê chân, nổi gân xanh.
Trong điều trị trĩ ngoại, bác sĩ sẽ tùy theo tình trạng bệnh cho liều điều trị tấn công và liều điều trị củng cố. Ngoài thuốc liên quan chính trên tĩnh mạch trĩ, bác sĩ có thể chỉ định thêm các thuốc khác như: kháng sinh ( nhóm penicillin, cephalosporin...), thuốc chống viêm (ibuprofen, naproxen...), thuốc giảm đau (paracetamol), thuốc trị táo bón... Người bệnh cần sử dụng thuốc theo đúng chỉ định, đặc biệt phải bền chí dùng thuốc kéo dài đủ thời gian.
Thuốc đặt hoặc thuốc bôi: tiêu dùng thuốc mỡ bôi lên vùng bị tổn thương để có tác dụng tại chỗ. Các loại thuốc dạng bôi này có chứa hoạt chất giảm đau, ngứa, rát, giúp sát khuẩn, chống nhiễm khuẩn song chỉ có chức năng giảm bớt các triệu chứng chứ không thể điều trị triệt để. Thuốc mỡ có thể ngăn ngừa tổn thương thêm và làm giảm ngứa bằng cách xuất hiện một rào cản trên bệnh trĩ. Bôi thuốc mỡ có chứa hydrocortisone 1%, một loại thuốc steroid có thể làm giảm viêm và ngứa.
Nhưng các thuốc này không nên tiêu dùng quá 2 tuần vì chúng có thể làm mỏng da. Người bệnh cũng có thể dùng thuốc đạn đặt vào trong hậu môn (trong trường hợp bị trĩ nội). Thuốc cho tác dụng tại chỗ (cả bôi và đặt) thường chứa nhiều hoạt chất như: làm giảm đau, chống viêm, kháng sinh, bảo vệ và làm bền chắc tĩnh mạch (bismuth subgallate, resorcinol, tannic acid, zinc oxide), khử trùng (boric acid, neomycin, phenylmercuric nitrate và oxyquinlone), ngoài ra còn chứa các

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2016

Men gan cao – dấu hiệu của nhiều loại bệnh gan nguy hiểm

Gan là bộ phận vô cùng kỳ diệu trong cơ thể, là nơi mà cùng lúc hàng ngàn tiến trình hoạt động đang diễn ra một cách hoàn chỉnh. Thế nhưng gan lại rất dễ bị tổn thương bởi các tác nhân bên ngoài, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ.
Gan là một tạng đặc lớn nhất trong cơ thể, cùng lúc thực hiện nhiều công dụng quan trọng. Gan giúp phát hành năng lượng một cách nhanh chóng khi nhu yếu, sản xuất ra protein mới, ngăn ngừa sự thiếu hụt năng lượng bằng cách dữ trữ một số vitamin, khoáng chất và đường, điều hoà, chuyển hóa mỡ…
bên cạnh đó, gan rất dễ bị tổn thương bởi các tác nhân xấu bên ngoài như: rượu, bia, thuốc lá, thói quen sống không lành mạnh, chế độ dinh dưỡng, môi trường sống… dẫn đến tổn thương và rơi vào tình trạnh bệnh lý: Viêm gan, bệnh gan do ký sinh trùng, xơ gan, ung thư gan, các bệnh lý đường mật, bệnh lý gan bẩm sinh trẻ em,…

Gan rất dễ bị tổn thương bởi các tác nhân xấu từ bên ngoài

Điều đáng run sợ là khi bệnh nhân mắc các bệnh về gan thường không có các triệu chứng lâm sàng rõ ràng nên dễ dàng bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Một số triệu chứng của người mắc bệnh về gan:
- Da và mắt thay đổi màu sắc bất thường, phát triển thành vàng. Đây có thể là dấu hiệu trước hết, đôi khi là dấu hiệu độc nhất của bệnh gan.
- Nước tiểu sậm màu; phân xám, vàng hoặc bạc màu.
- Nôn ói, ói mửa và/hoặc chán ăn.
- Bệnh gan có thể gây ra bụng báng do ứ đọng dịch trong khoang ổ bụng. Đau bụng
- Đôi khi có thay đổi cân nặng bất thường: trọng lượng cơ thể tăng hoặc giảm quá 5% trong vòng 2 tháng.
- Các rối loạn giấc ngủ, ít tập trung.
-  Rối loạn tâm thần và hôn mê xuất hiện khi bệnh nặng. thành quả này là do sự ứ đọng các chất độc ở não.

 Rất khó phát hiện các thể hiện của men gan cao vì không có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng

Vậy khi còn ở giai đoạn có thể kiểm soát được, triệu chứng nào giúp nhận biết gan đang bị tổn thương? Một cách đơn giản là dựa vào chỉ số men gan.
Vậy men gan là gì?
Trong gan có hệ thống ezym rất hoàn chỉnh để thực hiện hoạt động tổng hợp và chuyển hóa chất, gọi chung là men gan. Mỗi ngày sinh lý cơ thể có tế bào già đi và chết, có tế bào mới được sinh ra, khi tế bào chết đi sẽ phóng thích một lượng enzym vào máu, như vậy trong máu luôn có lượng enzym khăng khăng. Khi tế bào gan bị tổn thương nhiều thì lượng enzym phóng thích vô máu càng nhiều, tức có tăng men gan. Như vậy khi thấy tăng men gan tức là tế bào gan bị tổn thương.

Khi tế bào gan bị tổn thương, lượng enzym phóng thích nhiều trong máu cho thấy men gan tăng

Trong cơ thể người có các loại men gan: AST, ALT, LDH , GGT, Alkaline phosphatase. Trong đó, 2 chỉ số men gan ALT và AST thường được sử dụng để chuẩn đoán các bệnh về gan, đặc biệt là viêm gan. Đối với cơ thể bình thường, AST, ALT, GGT luôn ở ngưỡng từ 20 – 40 U/L. Ngoài ra, chỉ số men GGT còn được dùng để chuẩn đoán các bệnh viêm gan do rượu bia, thuốc,…
Khi gan bị tổn thương dẫn đến men gan tăng, nếu không chữa trị kịp thời và thay đổi thói quen sống có thể gây ra các tổn thương nghiêm trọng, thậm chí ung thư gan.
Cách dự phòng bệnh lý cho gan:
- Không uống quá 2 loại thức uống có rượu trong một ngày.
- Cẩn thận khi dùng chung vài loại thuốc với nhau; đặc biệt, không được trộn lẫn rượu và nhiều thuốc không có kê toa và các thuốc gia truyền với nhau.
- Tránh uống thuốc khi không nhu yếu. Nếu có thể thì cũng cần tránh tiếp xúc với các hoá chất công nghiệp.
- Duy trì một cơ chế ăn đầy đủ và cân đối
Đi khám bệnh nếu bạn phát hiện thấy bất cứ dấu hiệu hay dấu hiệu nào của bệnh gan và đừng quên thường xuyên cập nhật các kiến thức để duy trì lá gan luôn khoẻ mạnh